Bài: PGS.TS Trịnh Sinh
Ảnh: Lê Bích

Có một dòng tranh dân gian phổ biến khắp đất Nam Bộ, mặc dù có tuổi đời chỉ mới khoảng trăm năm. Đó là dòng tranh kính. Dòng tranh hết sức bình dị, chân chất như chính người dân xứ này. Người ta bắt gặp tranh kính được treo ở những chỗ sang trọng nhất trong nhà hay ở những di tích thờ tự (tranh thờ) hoặc ở những vị trí làm đẹp cho căn phòng (tranh cửa buồng). Đôi khi, tranh kính còn lan xuống phố, trang trí cho cả những chiếc xe ngựa vẫn được gọi một cách dân dã là xe “thổ mộ”.

Gọi là tranh kính bởi lẽ tranh được vẽ trên lớp kính. Mỗi lần lau tấm kính, tranh lại được làm mới, vẫn giữ nguyên được màu sắc như thuở ban đầu, vì thế tranh luôn luôn mới mặc cho thời gian cứ trôi qua. Có lẽ thuộc tính này của tranh kính hợp với tính cách người phương Nam: không chú ý nhiều đến tiểu tiết, mà chú ý đến cái vẻ thực dụng của tranh nhiều hơn. Cùng với cải lương Nam Bộ, đờn ca tài tử, tranh kính đã làm nên nét đẹp độc đáo của tính cách miệt vườn: có cái chất phóng khoáng của miền đất bao la sông rạch, thiên nhiên ưu đãi, làm như chơi mà chơi như làm. Vì thế mà tranh kính cũng có sức lan tỏa khá rộng, dường như bước vào bất kỳ ngôi nhà nào cũng có thể bắt gặp một tác phẩm tranh kính. Một phần nữa, tranh kính có giá thành rẻ, bình dân, không quá cầu kỳ, dễ sản xuất đại trà nên đã được người phương Nam ưa chuộng. Một thế kỷ qua, tranh kính như lắng đọng một phần tâm hồn của người Nam Bộ, nói lên được ước vọng về mọi mặt trong cuộc sống của người dân nơi đây.

Đã có hai cuộc trưng bày về dòng tranh này ở TP. Hồ Chí Minh. Đó cũng là dịp người Nam Bộ thưởng ngoạn tranh kính, tôn vinh nó và cũng là lúc nhớ về ký ức xa xưa một nếp nhà miệt vườn với những bức tranh kính gắn liền với bao kỷ niệm tuổi thơ của họ. Cuộc ra mắt đầu tiên của tranh kính là vào năm 1957 tại Phòng Thông tin Đô Thành, trụ sở ở góc đường Đồng Khởi và Lê Lợi, trung tâm Sài Gòn. Người ta vẫn nhớ tới người họa sĩ có công sưu tầm và triển lãm dòng tranh này lúc đó là ông Trương Cung Vinh. Cho đến tháng 8/2013, một cuộc trưng bày về tranh kính Nam Bộ quy mô hơn diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh do Trung tâm nghiên cứu Phật giáo Việt Nam và Ban Phật học chùa Xá Lợi tổ chức với sự góp mặt của 100 bức tranh kính lựa chọn từ bộ sưu tập 1.600 tác phẩm của các nhà sưu tầm đồ cổ.

Vào đầu thế kỷ XX, những bức tranh dân gian bằng kính đầu tiên xuất hiện ở khu Chợ Lớn cùng với sự phát triển mạnh của kỹ thuật chế tạo thủy tinh. Thoạt tiên là những bức tranh có chủ đề thờ phụng những nhân thần, đã được nhóm lưu dân từ Quảng Đông đem sang trong di sản văn hóa tâm linh của mình. Đó là những tranh thờ Quan Thánh Đế (tức Quan Vân Trường, một tướng giỏi trong thời Tam Quốc), tranh Ngũ Công Vương Phật thờ 5 vị tướng nhà Phật, Diện Nhiên Đại Sĩ… Các đề tài thờ Phật như Quan Âm Nam Hải, Bồ Đề Đạt Ma…Đôi khi, tranh kính Chợ Lớn chỉ gồm các chữ Đại Tự để thờ trong bài vị, hoành phi, câu đối. Bên cạnh tranh thờ là tranh khánh chúc để tặng nhau trong dịp lễ tết, mừng thọ, khai trương kinh doanh. Đó là các tranh Ngư Ông đắc lợi với chữ “Niên niên đại lợi” (Lợi lộc ngàn đời). Tranh Bát Tiên có 8 cô tiên, tranh Mã đáo thành công chúc mọi sự thành đạt vẽ hình tượng ngựa. Đặc điểm của tranh kính Chợ Lớn là ưa dùng màu đỏ, dán giấy quỳ vàng, quỳ bạc kết hợp với kỹ thuật tráng gương tạo nên hiệu ứng ánh sáng màu bạc lung linh.

Cho đến khi Lái Thiêu (Bình Dương) trở thành một trung tâm phồn thịnh các nghề thủ công của miền Đông Nam Bộ vào những năm 1920, thì dòng tranh kính mới thực sự được Việt hóa và có sức lan tỏa mạnh mẽ khắp đất Nam Bộ. Nơi đây nằm ở ven sông Sài Gòn, tiện cho thuyền bè giao thương, lại có một đội ngũ họa sĩ của trường Mỹ thuật Thủ Dầu Một tham gia vẽ tranh. Vì thế nên nghề sản xuất tranh kính đã phát triển vượt bậc. Lái Thiêu trở thành nơi sản xuất và đầu mối phân phối tranh về khắp lục tỉnh Nam Kỳ. Đề tài tranh cũng gần với cuộc sống dân dã. Đó là tranh thờ tổ tiên vẽ phong cảnh thiên nhiên và thường minh họa cho các câu tục ngữ có ý nghĩa răn dạy. Các vị thần bản địa cũng là đề tài của tranh kính Lái Thiêu: Bà Địa Mẫu, Bà Chúa Tiên, Cửu Thiên Huyền Nữ…Các cảnh sắc quê hương được phản ánh nhiều hơn: đàn gà, tranh thủy mặc. Cái nét riêng của tranh kính Lái Thiêu là pha nhiều màu sắc và dán thêm mảnh ốc xà cừ để tạo nên màu trắng bạc long lanh.

Những năm 50 của thế kỷ trước là thời kỳ huy hoàng của tranh kính. Từ trung tâm Lái Thiêu miền Đông Nam Bộ, các trung tâm tranh kính lan tỏa về miền Tây, nơi có nhiều cộng đồng người Việt và người Khmer sinh sống. Nơi miệt vườn Cửu Long đã sản sinh ra nhiều tranh kính, giá rẻ và đề tài phong phú, ngoài việc thờ tự, còn có tranh chỉ để trang trí cửa buồng, các đề tài minh họa tích chuyện như Tấm Cám, Thoại Khanh-Châu Tuấn, Lưu Bình-Dương Lễ. Cảnh sắc miệt vườn sông nước gần gũi, trẻ chăn trâu thổi sáo, cảnh bảy núi (Thất Sơn) như ở những bức tranh kính vẽ ở vùng Bà Vệ, Chợ Mới (An Giang). Tại vùng đông đảo người Khmer như ở Trà Vinh và Sóc Trăng thì đề tài của tranh kính mang đậm nét tâm linh Khmer với yếu tố Phật giáo Tiểu Thừa. Các nhân vật phải ăn vận trang phục Khmer truyền thống như áo cổ vuông, xăm pốt (váy), quàng khăn rằn. Có những tranh kính khá độc đáo như tranh thần Witsowan trấn trạch miêu tả một vị Thiên Vương đang đạp lên đầu hổ dữ.

Cùng với thời gian, kỹ thuật vẽ tranh kính cũng có biến đổi. Thoạt tiên là tranh được vẽ bằng bột màu trộn với dầu cây du đồng. Sau là vẽ bằng sơn ta, sơn công nghiệp. Lúc đầu vẽ bằng bút lông, sau là áp dụng kỹ thuật kéo lụa. Sự phối màu trên tranh kính quan trọng hơn nét vẽ. Dường như tranh kính thiên về tạo mảng, tạo khối màu hơn là sự tỉa tót từng nét hoa văn như ở nhiều dòng tranh dân gian khác. Cái quan trọng nhất là tranh kính Nam Bộ đã tạo ra bản sắc riêng, tồn tại một trăm năm và sự phổ biến sâu rộng của nó. Đấy chính là một di sản nghệ thuật đại chúng vô giá của mảnh đất phương Nam đầy nắng gió.